Những gì tôi chia sẻ phần nào một cách
đọc (một cách đọc chứ tuyệt nhiên không phải là cách đọc duy nhất) cuốn
tiểu thuyết Lolita thì tôi đã nói trong bài viết được coi là lời bạt (xem ở đây)
cho bản dịch tiếng Việt của dịch giả Dương Tường. Vẫn tiếp tục mạch ấy,
hôm nay tôi xin nói vắn tắt về một thói quen đọc sách đã thành thâm căn
cố đế của không ít người, thói quen này rất tiếc lại bắt nguồn từ
truyền thống cảm thụ văn học của nhiều thế hệ, được củng cố qua nhiều
thế hệ các nhà phê bình, và cuối cùng nhưng không phải là ít quan trọng
nhất, ấy là do lối giảng dạy văn học ở nhà trường trong nhiều thế hệ.
Thói quen phản xạ tự nhiên của người đọc là thường ngay lập tức đặt câu hỏi “tác phẩm này nói về điều gì vậy?”.
Nhà phê bình người Pháp Charles Augustin
Sainte-Beuve (1804-1869), là một trong những người có ảnh hưởng rất lớn
tới phê bình văn học. Luận điểm của ông là, để hiểu một người sáng tác
thì nhất thiết phải hiểu tiểu sử của người đó. Sainte-Beuve tham vọng có
thể mô tả được lịch sử phát triển văn học giống như “lịch sử giới tự
nhiên” (histoire naturelle). Ông viết trong cuốn Những chân dung văn học
(Portrait littéraires): nhà phê bình là người biết cách đọc và dạy lại
cho người khác cách đọc…Phê bình, như tôi hiểu và như tôi muốn thực hành
nó, là một sự phát minh, một sự sáng tạo vĩnh viễn Tôi chỉ còn một
khoái thú duy nhất, ấy là phân tích và sưu tầm giống như sưu tầm cây cỏ
vậy […].
Marcel Proust (1871 – 1922), đại văn hào Pháp, tác giả của bộ tiểu thuyết đồ sộ Tìm lại thời gian đã mất,
đánh dấu một mốc quan trọng trong sự phát triển văn xuôi nói chung và
tiểu thuyết hiện đại nói riêng, thậm chí, người ta đã nói tới văn học
trước Proust và sau Proust, là người đầu tiên phản đối quan niệm của
Sainte-Beuve trong tập tiểu luận nhan đề Chống lại Sainte-Beuve
(Contre Sainte-Beuve) mãi đến năm 1954 rất lâu sau khi ông mất nó mới
được xuất bản. Theo Proust, Sainte-Beuve sai ở chỗ thực ra người đọc cần
phải hiểu một tác giả bằng trái tim của mình chứ không phải là dùng lý
trí để tái dựng lại chân dung của nhà văn. Sainte-Beuve tự đặt mình vào
vị trí của độc giả thay vì vị trí của nhà văn.
Và, Proust là tác giả được Nabokov dẫn
chiếu có lẽ là nhiều nhất trong Lolita. Có thể nhặt ra rất nhiều chỗ.
Ngay trong Lời nói đầu Nabokov viết dưới tên mượn Tiến sĩ John Ray, Jr.;
khi nói bà Haze, mẹ của cô bé Lolita ; thậm chí dẫn chiếu tới cả tên
một tập trong bộ tiểu thuyết đồ sộ Tìm lại thời gian đã mất của Proust; nhưng, rõ nhất là ở phần hậu từ: “Nghiên cứu một tác phẩm hư cấu nhằm thu thập thông tin về một nước, hay về giai cấp xã hội, hay về tác giả, thì thật là trẻ con”
(hết trích) và ở chương 27 phần III, dẫn chiếu hẳn hoi tới tên của
Proust, trích: “Tôi thường hay nhận thấy rằng chúng ta thường có khuynh
hướng gán cho bạn bè của mình tính ổn định về tính cách mà các nhân vật
văn học in dấu được vào tâm trí độc giả. Bất kể chúng ta mở lại cuốn
“Vua Lear” bao nhiêu lần, không bao giờ chúng ta thấy ông vua đôn hậu
trong cơn bốc hơi men đập mạnh li rượu xuống mặt bàn, quên hết ưu phiền,
trong một cuộc họp mặt vui vẻ có cả ba con gái cùng những con chó kiểng
của họ… Cho dù nhân vật được yêu thích này, nọ có trải qua những triển
diễn như thế nào giữa hai bìa cuốn sách, số phận của họ vẫn cố định
trong tâm trí chúng ta, và tương tự như vậy, chúng ta chờ đợi các bạn
mình cũng theo cái mô hình lô-gich và ước lệ này, nọ mà chúng ta đã ấn
định cho họ. Như vậy, X sẽ không bao giờ soạn được một tác phẩm âm nhạc
bất tử khác hẳn những bản giao hưởng hạng hai mà ông ta đã khiến tai
chúng ta quen nge. Y sẽ không bao giờ phạm tội sát nhân. Trong bất kì
hoàn cảnh nào, Z cũng không thể phản bội chúng ta. Tất cả đã đâu vào đấy
trong đầu chúng ta, và càng ít thấy những con người khác biệt, ta càng
hài lòng khi nhận thấy họ ngoan ngoãn ứng xử theo đúng ý niệm của chúng
ta về họ mỗi khi ta nghe nói về họ” (hết trích).
Việc Nabokov trong Lolita dẫn chiếu rất
nhiều, và lặp lại nhiều lần theo những cách khác nhau, tới nhiều tác giả
quan trọng (ngoài Proust còn có một tượng đài của văn học thế giới thế
kỉ 20 hiểu theo nghĩa sự thay đổi cách viết, cách đọc văn học: là James
Joyce) không phải là vô cớ. Tác phẩm văn học tự nó định nghĩa chính nó,
tự nó là đề tài của chính nó. Ngay cả khái niệm “hiện đại” hay “hậu hiện
đại” kỳ cùng cũng là sự “phát minh” của những người đứng ở vị trí nhà
phê bình hiểu theo nghĩa thực ra ta không thể xác định được thời điểm cụ
thể ra đời. Người nghiên cứu phải phân giải mọi thứ ra để nghiên cứu,
nhưng sau đó cũng cần biết trả lại tác phẩm về chỗ tự nhiên của nó, nói
chung là đừng “quấy nhiễu, làm phiền” tác giả và cũng là quấy nhiễu cả
người đọc nữa.
Với bản dịch Lolita do Nhã Nam xuất bản, Việt Nam ít ra đã cởi mở hơn Mĩ cách đây hơn 50 năm! (Dương Tường)
Thật dễ hiểu, năm 1950 Nabokov lẽ ra đã
thực sự đốt bản thảo Lolita chưa hoàn thành của ông nếu như vợ ông không
kịp ngăn lai. Phải gần hai năm sau khi Lolita hoàn thành thì một nhà
nhà xuất bản của Pháp vốn nổi tiếng là “chịu chơi”, Olympia Press, mới
đồng ý in Lolita. Và phải đến năm 1958 thì Lolita mới
lần đầu tiên được xuất bản tại Mĩ. Sinh thời, Nabokov đã nói giễu cợt là
cuốn Lolita của ông đã gây ra một trận Cuồng phong Lolita (Hurricane
Lolita). Nhưng trận cuồng phong đích thực chính là trận cuồng phong làm
thay đổi sự phát triển của văn học và cách cảm thụ văn học. Ở Nabokov có
sự pha trộn thật tài tình hai nhân cách – nhân cách một nhà khoa học
(ông là một nhà nghiên cứu có uy tín trong lĩnh vực côn trùng học), giáo
sư giảng dạy văn học, và nhà thơ-người viết tiểu thuyết. Trong một lần
hiếm hoi, ông đã thổ lộ: “Trong thế giới của điền kinh, tôi nghĩ rằng
không bao giờ có nhà vô địch thế giới môn quần vợt hoặc trượt tuyết;
nhưng trong hai nền văn học khác nhau như thể cỏ và tuyết (văn học Nga
và văn học phương Tây), thì tôi là người đầu tiên đã làm được một kỳ
tích như trên”.
Độc giả Việt Nam quả may mắn được đọc bản dịch tiếng Việt của dịch giả Dương Tường. Như tôi thấy, cách nào đó,
việc dịch Lolita chỉ có thể được giao
cho bàn tay của dịch giả Dương Tường. Dương Tường đủ học vấn để dịch
Lolita, đã đành, mặc dù ông mới chỉ học đến lớp bảy phổ thông!; nhưng
Dương Tường trên hết là một nhà thơ, một nhà thơ cách tân độc đáo – tức
là không thể lẫn với bất kỳ ai.
Tất cả những cuốn sách ông dịch, nói như
người bạn thân của ông là nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đều là những cuốn làm
thay đổi nhận thức của người đọc, người viết. Kiệt tác Anna Carenina của văn hào Nga Tolstoi, kịch Chekov được ông dịch năm ông chưa tới 30 tuổi. Sau này là những kiệt tác điển hình có thể kể ra Phố những cửa hiệu u tối của nhà văn Pháp Patrick Modiano; Cái trống thiếc của nhà văn Đức Gunter Grass (Nobel văn học năm 1999); Con đường xứ Frandre
của nhà văn Pháp Claude Simon (Nobel văn học năm 1985); và, gần đây
nhất là tác phẩm có thể được xếp vào loại “bất khả độc thư” của văn học
thế giới là cuốn tiểu thuyết nhan đề Mort à crédit của nhà văn Pháp Louis Ferdinand Céline (được ông dịch là Chết chịu, bản dịch đã được hoàn thành trước khi ông bắt tay vào dịch Lolita, nhưng cuốn sách đã chưa thể được ra mắt). Và lần này là Lolita, cách nào đó cũng là một dạng “bất khả độc thư”.
Cũng xin tiết lộ một thông tin là dịch giả Dương Tường sau khi hoàn thành Lolita thì ông đã bắt tay vào dịch cuốn thứ nhất trong bộ tiểu thuyết nhiều tập Tìm lại thời gian đã mất của nhà văn Pháp Marcel Proust như được nhắc tới ở trên, đó là tập thứ nhất có nhan đề Về phía nhà Swann (Du Côté de chez Swann).
Độc giả Việt Nam may mắn có một dịch giả
thuộc loại thường chỉ xuất rất hiếm hoi trong nền văn học, những dịch
giả thuộc kiểu dịch giả nữ văn sĩ Đoàn Thị Điểm ở thời Hậu Lê khi bà
dịch kiệt tác Cung oán ngâm khúc của Đặng Trần Côn từ chữ Hán sang Nôm. Kiểu dịch giả, như chính Dương Tường tự định nghĩa: người dịch đồng tác giả.
© 2012 Phạm Anh Tuấn